Những nhóm thuốc hạ huyết áp có thể gây ho

Bạn đã có tài khoản, đăng nhập tại đây.

Những nhóm thuốc hạ huyết áp có thể gây ho

banner-img

Tác dụng phụ gây ho khan của thuốc hạ huyết áp thường tập trung ở ba nhóm thuốc là: nhóm thuốc ức chế men chuyển, nhóm thuốc chẹn bêta và nhóm thuốc chẹn kênh calci.

Nhóm thuốc ức chế men chuyển gồm: captopril, imidapril, enalapril, perindopril, lisinopril... Thuốc làm giãn mạch máu, giúp tim dễ dàng bơm máu qua mạch máu, tác dụng hạ huyết áp tốt, làm giảm nguy cơ biến cố tim mạch và cải thiện chức năng thận

Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên là men chuyển angiotensin (viết tắt ACE). ACE tham gia vào quá trình chuyển đổi angiotensin I thành angiotensin II – một chất gây co mạch và kích thích vỏ thượng thận sản xuất hormon aldosterol gây giữ nước làm tăng huyết áp trong cơ thể. Nếu ACE bị thuốc ức chế sẽ không sinh ra angiotensin II và có hiện tượng giãn mạch, làm hạ huyết áp. Thuốc gây ho khan vì ACE còn có vai trò trong sự phân hủy chất sinh học có tên bradykinin, nếu thuốc ức chế ACE, bradykinin không được phân hủy ở mức cần thiết sẽ thừa gây kích thích ho ở đường hô hấp. Tỷ lệ gặp biến chứng ho do thuốc ức chế men chuyển vào khoảng 5-30%. Thuốc có thể gây ho mà không phụ thuộc vào liều dùng. Nghĩa là nếu như ai đó đã mẫn cảm với thuốc thì có thể bị ho ngay từ liều hết sức thông thường. Sau khi đã bị ho, người bệnh cũng không ho tăng thêm khi tăng liều điều trị. Nhưng chỉ cần dừng thuốc từ 3-5 ngày là cơn ho tự hết. Một số trường hợp ho kéo dài và phải sau 2 tháng ngừng thuốc, cơn ho mới chấm dứt.

Imidapril là thuốc có tỉ lệ ho khan thấp nhất trong nhóm ức chế men chuyển.

Nhóm thuốc chẹn bêta là nhuốc thứ hai có thể gây ho khan, gồm: propranolol, , atenolol, metoprolol, acebutolol, timolol, metoprolol...

Cơ chế của thuốc là ức chế thụ thể bêta giao cảm ở tim mạch, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc dùng tốt cho bệnh nhân tăng huyết áp có kèm đau thắt ngực hoặc nhức nửa đầu, chống chỉ định đối với người có kèm hen suyễn, suy tim, nhịp tim chậm. Đa số thuốc chẹn bêta không chỉ ức chế thụ thể bêta-1 chọn lọc tác động trên tim mạch mà còn ức chế thụ thể bêta-2 gây co thắt phế quản. Cho nên nhiều thuốc chẹn bêta ngoài hạ huyết áp có thể gây phản xạ ho (do co thắt phế quản, chính vì vậy người bị hen là đối tượng tuyệt đối không được dùng thuốc chẹn bêta). Tỷ lệ bị ho do dùng thuốc chẹn bêta ít hơn so với thuốc ức chế men chuyển, nhưng gây nhiều phiền toái cho người sử dụng.

Nhóm thuốc chẹn kênh calci (còn gọi thuốc đối kháng calci), gồm: nifedipin, nicardipin, amlodipin, felodipin, nimodipin, verapamil, diltiazem...

Cơ chế của thuốc là chặn dòng ion calci không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu gây giãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. Các thuốc nhóm này dùng tốt cho bệnh nhân tăng huyết áp có kèm đau thắt ngực, hiệu quả đối với bệnh nhân cao tuổi, không ảnh hưởng đến chuyển hóa đường, mỡ trong cơ thể. Tỷ lệ bị ho do dùng thuốc chẹn calci thấp, khoảng 1-6%. Đặc biệt, đây là thuốc thường phối hợp với thuốc ức chế men chuyển trị tăng huyết áp nên phản xạ ho gây ra phần nhiều bởi thuốc ức chế men chuyển chứ không phải do thuốc chẹn kênh calci. Tuy nhiên, tác dụng phụ gây ho của thuốc chẹn calci cũng cần ghi nhận để bệnh nhân nắm được và tránh việc bỏ thuốc điều trị giữa chừng tùy tiện.

Người bệnh cần làm gì khi bị ho do thuốc

Không ít trường hợp gặp biến chứng ho do thuốc điều trị tăng huyết áp đã phải uống “oan” rất nhiều kháng sinh, thuốc ho, xông họng vì cứ ngỡ bị ho do viêm họng hoặc co thắt phế quản, mà các cơn ho vẫn không dứt. Đáng ngại hơn, khi bị ho nhiều người bệnh dùng thuốc long đờm, khiến cơn ho ngày càng dữ dội, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và sinh hoạt.

Ho có thể do thuốc trị tăng huyết áp nhưng cũng có thể do nguyên nhân khác. Vì vậy, khi bị ho, nên thử tìm nguyên nhân vì sao bị ho (có thể bị cảm lạnh, dị ứng thời tiết, hay nguyên nhân nào khác...). Trường hợp ho nhiều có thể dùng thuốc trị ho thông thường trong vài ngày, nếu sau vài ngày không đỡ ho và nghi ngờ do tác dụng phụ của thuốc, người bệnh nên đến bác sĩ khám chữa bệnh tăng huyết áp trước đây kể rõ triệu chứng ho. Khi khẳng định là ho do thuốc, bác sĩ sẽ cho dùng liều thấp nhất có hiệu quả, hoặc đổi thuốc điều trị khác phù hợp hơn. Ngoài việc thay thế thuốc, bác sĩ còn hướng dẫn người bệnh các biện pháp làm giảm các yếu tố tiềm tàng kích thích phản xạ ho ở đường hô hấp. Một điều đặc biệt lưu ý là người bệnh không được tự ý bỏ thuốc trị tăng huyết áp đang dùng, vì người bị tăng huyết áp rất cần dùng thuốc đều đặn để kiểm soát, nếu ngưng dùng thuốc, huyết áp tăng vọt rất nguy hiểm.

Các tác dụng phụ khác có thể gặp

Các loại thuốc hạ huyết áp đều gây ra những tác dụng phụ không mong muốn, nhất là khi người bệnh áp dụng không đúng cách. Một số rối loạn thường gặp là: đau đầu, chóng mặt, táo bón, da bị ửng đỏ, rối loạn cương dương đối với nam giới dùng thuốc lâu ngày. Tuy nhiên các triệu chứng này có thể sẽ nhanh chóng mất đi. Phù mắt cá chân 2 bên có thể gặp khi sử dụng nhóm ức chế calci. Bác sĩ sẽ điều chỉnh và thay đổi thuốc phù hợp khi bạn gặp phải các triệu chứng khó chịu trên.

Cần thận trọng với thuốc hạ huyết áp Adalat (một dạng thuốc hạ huyết áp khẩn cấp) vì tác dụng phụ của nó gây ra có thể khiến người bệnh bị thiếu máu cơ tim cục bộ, dùng quá liều có thể bị tai biến tụt huyết áp, bị chuột rút và hạ kali máu rất nguy hiểm.

VNCV190780