Sự khác biệt về chuẩn đoán trầm cảm giữa DSM-5 và DSM-IV

Bạn đã có tài khoản, đăng nhập tại đây.

Sự khác biệt về chẩn đoán trầm cảm giữa DSM-5 và DSM-IV

I. Phân loại rối loạn trầm cảm theo DSM-5

 

-       Rối loạn xáo trộn cảm xúc (Disruptive Mood Dysregulation Disorder)

-       Rối loạn trầm cảm chủ yếu (Major Depressive Disorder)

-       Rối loạn trầm cảm kéo dài (Persistent Depressive Disorder – Dysthymia)

-       Rối loạn trầm cảm tiền kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder)

-       Rối loạn trầm cảm do chất/thuốc (Substance/Medication-Induced Depressive Disorder)

-       Rối loạn trầm cảm do một tình trạng sức khỏe (Depressive Disorder Due to Another Medical Condition)

 

II. Điểm mới về phân loại so với DSM-IV

 

-       Rối loạn xáo trộn cảm xúc (Disruptive Mood Dysregulation Disorder)

-       Rối loạn trầm cảm tiền kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder)

-       Rối loạn trầm cảm kéo dài (Persistent Depressive Disorder – Dysthymia)

Rối loạn xáo trộn cảm xúc (Disruptive Mood Dysregulation Disorder): Để giải quyết mối lo ngại về chẩn đoán quá mức và điều trị quá mức rối loạn lưỡng cực ở trẻ em. Chẩn đoán Rối loạn xáo trộn cảm xúc (Disruptive Mood Dysregulation Disorder) được sử dụng cho trẻ em đến 18 tuổi có biểu hiện khó chịu dai dẳng và thường xuyên có những giai đoạn mất kiểm soát hành vi.

Dựa trên bằng chứng khoa học mạnh mẽ, rối loạn tiền kinh nguyệt đã được chuyển từ Phụ lục B DSM-IV.

Loạn khí sắc trong DSM-IV bây giờ thuộc loại rối loạn trầm cảm kéo dài, bao gồm cả rối loạn trầm cảm mãn tính và loạn khí sắc trước đó.

 

III. Điểm mới về phân nhóm rối loạn trầm cảm chủ yếu

 

Những phân nhóm trầm cảm mới

DSM-5 đưa thêm những phân nhóm mới để làm rõ hơn chẩn đoán trầm cảm: nhóm với đặc điểm hỗn hợp và nhóm với căng thẳng lo âu.

- Với đặc điểm hỗn hợp: Phân nhóm này cho phép có một số triệu chứng hưng cảm trong chẩn đoán trầm cảm mà không đáp ứng tiêu chuẩn hưng cảm và hưng cảm nhẹ.

- Với căng thẳng lo âu: Nhóm này được thêm vào để tính đến sự hiện diện các lo lắng căng thẳng, không yên, mà có ảnh hưởng đáng kể đến tiên lượng và lựa chọn điều trị.

 

IV. Điểm mới trong tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm chủ yếu

 

Cả các triệu chứng tiêu chí cốt lõi được áp dụng để chẩn đoán giai đoạn trầm cảm chính cũng như thời gian cần thiết trong ít nhất 2 tuần giống DSM-IV. Tiêu chí A cho một giai đoạn trầm cảm lớn trong DSM-5 giống hệt với DSM-IV, như là yêu cầu đối với đau khổ hoặc suy giảm đáng kể về mặt lâm sàng trong xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác của cuộc sống, mặc dù hiện tại nó được liệt kê là Tiêu chí B thay vì tiêu chí C.

Sự cùng tồn tại trong một giai đoạn trầm cảm ít nhất ba triệu chứng hưng cảm (không đủ để đáp ứng các tiêu chí cho một giai đoạn hưng cảm) hiện được xác định là “với đặc điểm hỗn hợp”. Sự hiện diện của các đặc điểm hỗn hợp trong một giai đoạn rối loạn trầm cảm chủ yếu làm tăng khả năng bệnh trong phổ lưỡng cực; tuy nhiên, nếu cá nhân liên quan chưa bao giờ đáp ứng các tiêu chí cho một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ, vẫn chẩn đoán rối loạn trầm cảm.

Loại trừ rối loạn do mất người thân

Trong DSM-IV, có một tiêu chí loại trừ giai đoạn trầm cảm được áp dụng cho các triệu chứng trầm cảm kéo dài dưới 2 tháng sau cái chết của người thân (ví dụ, loại trừ mất người thân). Loại trừ này được bỏ qua trong DSM-5 vì một số lý do.

Đầu tiên là loại bỏ hàm ý rằng sự mất mát thường chỉ kéo dài 2 tháng khi cả bác sĩ và nhân viên tư vấn đau buồn nhận ra rằng thời gian này có thể kéo dài 1-2 năm.

Thứ hai, mất người thân được công nhận là một yếu tố gây căng thẳng tâm lý xã hội nghiêm trọng có thể dẫn đến giai đoạn trầm cảm chủ yếu ở một cá nhân dễ bị tổn thương, thường bắt đầu ngay sau sự mất mát. Khi rối loạn trầm cảm chủ yếu xảy ra trong bối cảnh mất người thân, nó sẽ tăng thêm nguy cơ đau khổ, cảm giác vô dụng, ý tưởng tự tử, sức khỏe kém hơn, chức năng làm việc và giao tiếp kém hơn, và tăng nguy cơ bị rối loạn kéo dài, hiện được mô tả với các tiêu chí rõ ràng trong các bệnh để nghiên cứu thêm trong DSM-5 Phần III.

Thứ ba, trầm cảm chủ yếu liên quan đến mất mát rất có thể xảy ra ở những người có tiền sử cá nhân và gia đình bị giai đoạn trầm cảm. Nó bị ảnh hưởng về mặt di truyền và có liên quan đến các đặc điểm nhân cách tương tự, mô hình bệnh kết hợp, và nguy cơ mãn tính và/hoặc tái phát như các giai đoạn trầm cảm chủ yếu không liên quan đến mất người thân.

Cuối cùng, các triệu chứng trầm cảm liên quan đến trầm cảm do mất người thân đáp ứng với các phương pháp điều trị tâm lý và xã hội tương tự như trầm cảm không liên quan đến mất người thân. Trong các tiêu chí cho rối loạn trầm cảm chủ yếu, một chú thích chi tiết đã thay thế sự loại trừ đơn giản trong DSM-IV để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc phân biệt giữa các triệu chứng đặc trưng của bệnh mất người thân và các giai đoạn trầm cảm chủ yếu.

So sánh DSM-IV và DSM-5

Tiêu chuẩn

DSM-IV

DSM-5

Nhóm: Rối loạn khí sắc

 

Nhóm: Rối loạn trầm cảm

 

Tiêu chuẩn A có từ 5 triệu chứng trở lên (Ít nhất phải có 1 trong 2 triệu chứng A1 hoặc A2)

A1 Khí sắc trầm - do bệnh nhân báo cáo hoặc do người khác quan sát (ở trẻ em và thiếu niên biểu hiện bực tức).

A2 Mất quan tâm thích thú trong hầu hết các hoạt động - được bệnh nhân báo cáo hoặc người khác quan sát.

A3 Sụt cân hoặc tăng cân ngoài ý muốn (trên 5%/tháng) hoặc giảm hoặc tăng sự ngon miệng (ở trẻ em, không đạt được cân nặng mong đợi).

A4 Rối loạn giấc ngủ (mất ngủ hoặc ngủ nhiều).

A5 Thay đổi tâm thần vận động nặng mà người khác quan sát được (kích động hoặc chậm chạp).

A6 Mệt mỏi, giảm năng lượng hoặc giảm hiệu quả khi làm những công việc hàng ngày.

A7 Cảm giác không có giá trị, hoặc những ý nghĩ bị tội quá mức, không phù hợp, hoặc hoang tưởng bị tội (không chỉ là tự trách hoặc cảm thấy có tội vì bị bệnh).

A8 Suy giảm khả năng suy nghĩ, tập trung, hoặc đưa ra quyết định - do tự báo cáo hoặc người khác quan sát thấy.

A9 Những suy nghĩ lặp đi lặp lại về cái chết (không chỉ là chết), ý tưởng tự sát, mưu toan tự sát.

Các triệu chứng gây ra khó chịu rõ rệt hoặc suy giảm chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các chức năng khác.

Các triệu chứng không do hậu quả sinh lý của 1 chất (ví dụ: nghiện chất, tác dụng phụ của thuốc kê toa) hoặc 1 bệnh cơ thể (VD: suy giáp).

Các triệu chứng không đáp ứng tiêu chuẩn giai đoạn hỗn hợp

 

Không bao giờ có giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ.

Rối loạn trầm cảm chủ yếu không được giải thích tốt hơn bởi phổ tâm thần phân liệt hoặc các rối loạn loạn thần khác.

Các triệu chứng không phải do mất người thân (nghĩa là, sau khi mất người thân, các triệu chứng kéo dài trên 2 tháng hoặc suy giảm chức năng rõ rệt, bận tâm bệnh lý về sự mất giá trị, ý tưởng tự sát, các triệu chứng loạn thần hoặc chậm chạp tâm thần vận động).

 

 

V. Nhận xét

 

DSM-5 giúp các nhà lâm sàng tiếp cận sâu hơn với trầm cảm, chẩn đoán chính xác hơn, và do đó có quyết định điều trị tốt hơn.

Cụ thể là DSM-5 đưa thêm những phân nhóm mới trong chẩn đoán, như trầm cảm với đặc điểm hỗn hợp và trầm cảm với căng thẳng lo âu, với những nhấn mạnh là các bác sĩ cần chú ý đến những nhóm này vì khó điều trị, tiên lượng xấu hơn trầm cảm đơn thuần.

Việc loại trừ rối loạn do mất người thân cũng phù hợp với lâm sàng, như trong phần trên đã nêu.

 

Tài liệu tham khảo:

 

1.   Highlights of Changes from DSM-IV-TR to DSM-5. American Psychiatric publishing.

2.   DSM-5

3.   Deborah S. Hasin, et col. Epidemiology of Adult DSM-5 Major Depressive Disorder and Its Specifiers in the United States, JAMA psychiatry.

VTM2135245