Lựa chọn thuốc trong điều trị triệu chứng do hội chứng ruột kích thích

Bạn đã có tài khoản, đăng nhập tại đây.

Lựa chọn thuốc trong điều trị triệu chứng do hội chứng ruột kích thích

Hội chứng ruột kích thích được đặc trưng bởi tình trạng đau bụng tái phát và có liên quan với việc đi tiêu hay thay đổi thói quan đi tiêu mà không có nguyên nhân thực thể giải thích được các triệu chứng này. Đây là một rối loạn ruột chức năng (functional bowel disorder) rất thường gặp với tỉ lệ hiện mắc trong cộng đồng vào khoảng 11,2% [1]. Hội chứng ruột kích thích làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của người bệnh [2]. Các rối loạn tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu hay rối loạn dạng cơ thể cũng thường gặp ở bệnh nhân bị hội chứng này [3]. Hội chứng ruột kích thích thường được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Rome IV (bảng 1).

 

Bảng 1. Tiêu chuẩn Rome IV chẩn đoán hội chứng ruột kích thích [1]

Đau bụng tái phát, ít nhất 1 ngày mỗi tuần trong vòng 3 tháng gần đây, kết hợp với ≥ 2 tiêu chuẩn sau đây:

  • Có liên quan việc đi tiêu
  • Thay đổi số lần đi tiêu
  • Thay đổi hình dạng phân

Các triệu chứng này xảy ra ≥ 3 tháng gần đây với triệu chứng khởi phát xuất hiện ≥ 6 tháng trước chẩn đoán.

 

Do hội chứng ruột kích thích là một rối loạn ruột mạn tính nên mục tiêu điều trị của hội chứng này là làm giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh [1][3]. Điều trị hội chứng ruột kích thích cần được cá thể hóa và giải quyết tất cả các triệu chứng của người bệnh. Khi điều trị, cần lưu ý đến thể bệnh, các triệu chứng nổi trội, mức độ nặng của triệu chứng và các yếu tố góp phần thúc đẩy (bao gồm cả các vấn đề về tâm lý xã hội) [3]. Kết hợp các phương pháp không dùng thuốc (thay đổi lối sống và chế độ ăn) với điều trị dùng thuốc có thể giúp gia tăng hiệu quả điều trị cho người bệnh [1].

 

Theo tiêu chuẩn Rome IV, đau bụng là một triệu chứng quan trọng và cần phải có để chẩn đoán hội chứng ruột kích thích. Có nhiều cơ chế góp phần gây tình trạng đau bụng: Tăng co thắt cơ trơn ống tiêu hóa, tăng nhạy cảm tạng, tình trạng viêm tại chỗ hay rối loạn điều hòa của hệ thần kinh trung ương. Đau thường ở vùng bụng dưới, xuất hiện sau khi ăn, gia tăng khi có căng thẳng và hiếm khi xảy ra về đêm. Tình trạng đau bụng thường giảm khi đi tiêu nhưng có khi tăng thêm sau đi tiêu [1][4].

 

Thuốc chống co thắt (antispasmodics) là nhóm thuốc được lựa chọn đầu tay để điều trị đau bụng do hội chứng ruột kích thích [3][5]. Các thuốc này làm giảm đau bụng thông qua tác dụng ức chế co thắt cơ trơn của ruột sau ăn. Ngoài ra, nhóm thuốc này cũng làm giảm số lần đi tiêu do làm tăng thời gian vận chuyển đại tràng, đặc biệt ở các bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy [6]. Các thuốc chống co thắt thường được chia thành 3 nhóm: Nhóm chẹn kênh calci (alverine citrate, mebeverinee, otilonium bromide, pinaverium bromide, tinh dầu bạc hà), nhóm kháng cholinergic (hyoscine, cimetropium) và các thuốc khác (trimebutin) [6]. Kết quả từ một phân tích gộp cho thấy các thuốc chống co thắt có hiệu quả giảm đau bụng tốt hơn so với giả dược (tỉ số chênh 1,65, khoảng tin cậy 95%: 1,3 - 2,1, p < 0,001). Các thuốc này cũng giúp cải thiện các triệu chứng của hội chứng ruột kích thích tốt hơn so với giả dược (tỉ số chênh 2,13, khoảng tin cậy 95%: 1,77-2,58, p < 0,001) [7]. Kết quả của các phân tích gộp gần đây cũng cho thấy thuốc chống co thắt có hiệu quả hơn giả dược trong điều trị đau bụng [8] cũng như làm giảm các triệu chứng do hội chứng ruột kích thích [9][10]. Số bệnh nhân cần điều trị để một trường hợp đạt hiệu quả giảm triệu chứng là 5 (khoảng tin cậy 95%: 4-9) [9]. Không có sự khác biệt trong hiệu quả làm giảm triệu chứng giữa các thuốc chống co thắt [9]. Nhóm thuốc này đã được khuyến cáo sử dụng trong hội chứng ruột kích thích để điều trị đau bụng cũng như cải thiện các triệu chứng do hội chứng ruột kích thích [1][6][2][11].

 

Do có thể phải được sử dụng lâu dài nên cần chú ý các tác dụng phụ khi lựa chọn thuốc chống co thắt trong hội chứng ruột kích thích. Kết quả từ các phân tích gộp cho thấy bệnh nhân dùng thuốc chống co thắt sẽ tăng nguy cơ bị tác dụng phụ 1,6 lần so với giả dược (khoảng tin cậy 95%: 1,08 – 2,39) [9][10]. Nhóm thuốc kháng cholinergic thường có các tác dụng phụ: Khô miệng, tiểu khó, nhìn mờ, hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, táo bón và chướng bụng. Kết quả từ các phân tích gộp cũng cho thấy tác dụng phụ thường gặp khi dùng thuốc chống co thắt trong hội chứng ruột kích thích thường liên quan đến tác dụng kháng cholinergic (khô miệng, choáng váng và nhìn mờ) [7][9][10]. Chính vì thế, thuốc cắt giảm co thắt kháng cholinergic ít được lựa chọn sử dụng lâu dài trong thực hành lâm sàng, đặc biệt là ở các bệnh nhân có táo bón và chướng bụng [8]. Tác dụng phụ thường gặp khi dùng trimebutine (một thuốc tác động trên thụ thể opioid ngoại biên) là khô miệng, táo bón và tiêu chảy. Các tác dụng phụ trên thần kinh và tim mạch khi dùng quá liều trimebutin đã được báo cáo [12][13]. Nguy cơ bị nghiện khi dùng trimebutine liều cao và kéo dài, đặc biệt là đường tĩnh mạch cũng đã được ghi nhận [13]. Các thuốc chống co thắt thông qua cơ chế chẹn kênh canxi thường ít bị tác dụng phụ [6][14].

 

Mebeverine là một thuốc chống co thắt tác động qua cơ chế chẹn kênh natri hoạt động phụ thuộc điện thế. Mebeverine cũng có tác động ức chế sự tích tụ calci nội bào. Nhờ 2 cơ chế này mà mebeverine có tác dụng giảm co thắt và điều hòa nhu động ruột mà không làm ảnh hưởng đến trương lực đường tiêu hóa. Kết quả của một nghiên cứu trên 89 bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích cho thấy mebeverinee giúp giảm đau bụng, chướng bụng và các rối loạn đi tiêu (tiêu chảy và táo bón) sau 4 tuần sử dụng. Hiệu quả của thuốc vẫn còn đạt 86% sau 1 năm sử dụng mà không cần tăng liều [15]. Kết quả từ một phân tích gộp cũng cho thấy mebeverine giúp giảm triệu chứng của hội chứng ruột kích thích tốt hơn so với giả dược (tỉ số chênh 2,04, khoảng tin cậy 95%: 1,15 – 3,63, p = 0,01) [7]. Mebeverine và otilonium bromide cũng được chứng mính có hiệu quả tương đương trong khả năng làm giảm các triệu chứng của hội chứng ruột kích thích [16]. Kết quả từ một nghiên cứu khác cũng cho thấy mebeverine có hiệu quả tương đương pinaverlum trong điều trị hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy [14]. Do không có hoạt tính kháng cholinergic nên mebeverine không có các tác dụng phụ như nhìn mờ, khô miệng, rối loạn đi tiểu, táo bón hay chướng bụng. Kết quả từ một phân tích gộp còn cho thấy tác dụng phụ khi sử dụng mebeverine không nhiều hơn giả dược [17]. Mebeverine 200mg (dạng phóng thích chậm) có hiệu quả giảm đau bụng và cải thiện triệu chứng của hội chứng ruột kích thích tương đương mebeverine 135mg mà không làm tăng tác dụng phụ [17]. Do giảm số lần sử dụng thuốc trong ngày (từ 3 lần xuống 2 lần), mebeverine phóng thích kéo dài có thể giúp gia tăng sự tuân thủ của người bệnh.

 

Tóm lại, hội chứng ruột kích thích là một rối loạn tiêu hóa chức năng thường gặp và đau bụng là triệu chứng cần có để chẩn đoán hội chứng này. Thuốc chống co thắt vẫn là lựa chọn đầu tay trong điều trị đau bụng cho bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích. Khi dùng thuốc chống co thắt, cần lưu ý đến tác dụng phụ mà đặc biệt là các tác dụng phụ kháng cholinergic. Mebeverine - thuốc chống co thắt có tác dụng điều hòa nhu động ruột - đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị các triệu chứng của hội chứng ruột kích thích (đau bụng, chướng bụng, tiêu chảy và táo bón). Dạng phóng thích chậm của mebeverine có thể giúp gia tăng sự tuân thủ của bệnh nhân.

 

  • Tài liệu trao đổi thông tin dành cho cán bộ y tế.
  • Tác giả chịu trách nhiệm về nội dung bài viết, tính chính xác của các trích dẫn và dữ liệu sở hữu trong bài viết, tính hợp pháp bản quyền của bài viết.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.  Lacy BE, Mearin F, Chang L, et al. Bowel disorders. Gastroenterology 2016;150:1393-1407

2.  Ford AC, Moayyedi P, Chey WD, et al. American College of Gastroenterology Monograph on Management of Irritable Bowel Syndrome. Am J Gastroenterol. 2018;113(Suppl 2):1‐18.

3.  Gwee KA, Bak YT, Ghoshal UC, et al. Second Asian Consensus on Irritable Bowel Syndrome. J Neurogastroenterol Motil. 2019 Jul; 25(3): 343–362.

4.  Ford AC and Talley NJ. Irritable Bowel Syndrome, in Sleisenger and Fordtran’s gastrointestinal and liver disease : pathophysiology/diagnosis/management, 10th edition, 2016, Saunders Elsevier, Philadelphia, pp. 2139 – 2153

5.  Gwee KA, Ghoshal UC, Chen M. Irritable bowel syndrome in Asia: Pathogenesis, natural history, epidemiology, and management. J Gastroenterol Hepatol. 2018;33(1):99‐110

6.  Song KH, Jung HK, Kim HJ, et al. Clinical Practice Guidelines for Irritable Bowel Syndrome in Korea, 2017 Revised Edition. J Neurogastroenterol Motil. 2018;24(2):197‐215.

7.  Poynard T, Regimbeau C, Benhamou Y. Meta-analysis of smooth muscle relaxants in the treatment of irritable bowel syndrome. Aliment Pharmacol Ther. 2001;15(3):355‐361.

8.  Tack J, Fried M, Houghton LA, Spicak J, Fisher G. Systematic review: the efficacy of treatments for irritable bowel syndrome--a European perspective. Aliment Pharmacol Ther. 2006;24(2):183‐205

9.  Ford AC, Moayyedi P, Lacy BE, et al. American College of Gastroenterology monograph on the management of irritable bowel syndrome and chronic idiopathic constipation. Am J Gastroenterol. 2014;109 Suppl 1:S2‐S27.

10.   Ford AC, Talley NJ, Spiegel BM, et al. Effect of fibre, antispasmodics, and peppermint oil in the treatment of irritable bowel syndrome: systematic review and meta-analysis. BMJ 2008;337:a2313

11.   Moayyedi P, Andrews CN, MacQueen G, et al. Canadian Association of Gastroenterology Clinical Practice Guideline for the Management of Irritable Bowel Syndrome (IBS). J Can Assoc Gastroenterol. 2019;2(1):6‐29.

12.   Schiariti M , Saladini A, et al. QT Interval Prolongation and Atypical Proarrhythmia: Monomorphic Ventricular Tachycardia with Trimebutine. The Open Pharmacology Journal, 2009, 3, 32-36

13.   Trimebutine: abuse, addiction and overdose. Prescrire Int. 2013;22(142):241‐242.

14.   Lu CL, Chen CY, Chang FY, et al. Effect of a calcium channel blocker and antispasmodic in diarrhoea-predominant irritable bowel syndrome. J Gastroenterol Hepatol 2000;15:925-930.

15.   Boisson J, Coudert PH, Dupuis J, Laverdant Ch, Toulet J. Tolerance de la mebeverinee a long terme. Acta _er 1987;16:289–192.

16.   Chang FY, Lu CL, Luo JC, Chen TS, Chen MJ, Chang HJ. The evaluation

of otilonium bromide treatment in Asian patients with irritable bowel syndrome. J Neurogastroenterol Motil 2011; 17:402- 410.

17.   Darvish-Damavandi M, Nikfar S, Abdollahi M. A systematic review of efficacy and tolerability of mebeverinee in irritable bowel syndrome. World J Gastroenterol. 2010;16(5):547‐553.