Điều trị bệnh lý thường gặp ở trẻ

Bạn đã có tài khoản, đăng nhập tại đây.

Điều trị bệnh lý thường gặp ở trẻ

Vào 20/04/2019 và 18/05/2019 tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã diễn ra hội thảo Pediatric Summit với chuyên đề "Điều trị các bệnh lý thường gặp ở trẻ: Từ lý thuyết đến thực tiễn lâm sàng". Dưới đây là một số các hightlights trong hai buổi hội thảo trên.

Phần 1: thực tiễn điều trị nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em.

PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng, nguyên Trưởng khoa Hô Hấp Bệnh Viện Bạch Mai

PGS. TS Phan Hữu Nguyệt Diễm, nguyên Trưởng khoa nội 2, Bệnh viên Nhi Đồng 1

Nhiễm khuẩn hô hấp là một vấn đề đáng quan tâm nhất trong các bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trong môi trường ngày càng ô nhiễm hiện nay ở Việt Nam. Hội thảo được các chuyên gia chia sẻ quan điểm và kinh nghiệm 3 vấn đề chính là: 

1. Chẩn đoán phân biệt Viêm họng liên cầu với Viêm họng do virus:

Viêm họng đa phần nguyên nhân do virus, chiếm 70-80% trường hợp, và vi khuẩn GABHS (liên cầu tan huyết beta nhóm A) chiếm tỉ lệ 80 – 90% trong nhóm nguyên nhân do vi khuẩn. Việc chẩn đoán phân biệt nguyên nhân do virus và GABHS giúp chỉ định kháng sinh phù hợp, tránh lạm dụng kháng sinh cho virus và hạn chế biến chứng nếu chậm dùng kháng sinh khi nguyên do là GABHS.

Trên thực tiễn lâm sàng, một số trường hợp chưa phân biệt được nguyên nhân vi khuẩn hay virus, các bác sĩ thường chỉ định kháng sinh đề phòng bội nhiễm.

Trong các phương pháp như Cấy nhớt họng, Test nhanh liên cầu (RADT), ASLO, thì khám và phân tích các triệu chứng là phù hợp nhất để chẩn đoán GABHS trên lâm sàng.

Trong đó thang điểm CENTOR được tin cậy và dễ áp dụng:

+ 2-3 điểm: cần làm thêm test nhanh, nếu dương tính thì điều trị kháng sinh

+ 4 điểm: bệnh nhân cần dùng kháng sinh ngay.

 

2.  Hướng dẫn điều trị và sử dụng kháng sinh ngắn ngày trong điều trị Viêm họng liên cầu:

Theo các khuyến cáo điều trị hiện tại, Penicillin là chọn lựa đầu tiên cho điều trị Viêm họng.

Tuy nhiên, tỉ lệ thất bại có thể lên đến 30%. Nguyên nhân được phân tích do Vi khuẩn GABHS có khả năng đột biến và trú ẩn vào bên trong tế bào (xâm nhập nội bào), vì kháng sinh Penicillin cũng như các loại Betalactam khác là dạng tan trong nước, không thể thấm vào bên trong tế bào nên không thể tiêu diệt được khi vi khuẩn đã vào nội bào. Ngoài ra, bệnh nhân thường không tuân thủ đủ liệu trình điều trị 7-10 kéo dài của Penicillin.

Ngoài khả năng diệt khuẩn ngoại bào, kháng sinh thân dầu (như thuốc nhóm Macrolide) có khả năng thấm vào trong tế bào và tiêu diệt vi khuẩn nội bào, vì thế thuốc này cũng là chọn lựa để điều trị Viêm họng do GABHS mà bác sỹ cần lưu ý.

Liệu trình ngắn ngày của Clarithromycin (5 ngày) đã được chứng minh so sánh với Penicillin (10 ngày) về khả năng diệt khuẩn và được khuyến cáo nên dùng cho những quốc gia có tỷ lệ thấp sốt thấp khớp như Việt Nam.

3. Nguyên nhân viêm phổi và sử dụng kháng sinh trong điều trị:

Trong điều trị Viêm phổi, việc hướng chẩn đoán đến nguyên nhân gây bệnh rất quan trọng để chọn lựa đúng kháng sinh cho bệnh nhân. Độ tuổi của bệnh nhi cũng là yếu tố định hướng chẩn đoán vi khuẩn gây bệnh.

Theo Nghiên cứu của tác giả PLT Huong (BMC, Public Health 2014), tỷ lệ nhiễm khuẩn không điển hình ở trẻ em Việt Nam lên đến 29,78%. Ngoài ra, việc đồng mắc nhiều loại vi khuẩn không điển hình được chứng minh làm tăng độ nặng cho bệnh nhi. 

Khuynh hướng mới hiện nay trong điều trị nhiễm vi khuẩn không điển hình là kết hợp betalactam và macrolide.

Với cơ chế có thể phá vỡ màng biofilm, macrolide như clarithromycin đã chứng minh đem lại hiệu quả điều trị trên những chủng vi khuẩn không điển hình (Pseudomonas aeruginosa) kháng thuốc do tạo ra màng biofilm bảo vệ chúng.

Ngoài ra, nhóm kháng sinh macrolide còn có khả năng kháng viêm, và tác dụng này hữu ích cho các trường hợp viêm phổi ở bệnh nhân có bệnh hô hấp mãn tính. 

Phần 2: cập nhật thuốc điều trị các bệnh lý tiêu hóa thường

PGS. TS. BS. Nguyễn Thị Việt Hà - Trưởng khoa tiêu hóa BV Nhi Trung Ương

TS. BS. Hoàng Lê Phúc, trưởng khoa Tiêu Hóa Bệnh Viện Nhi Đồng 1

Ở chuyên đề Tiêu hóa, các chuyên gia đã trình bày về các bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ.

1. Đầu tiên, đó là điều trị bệnh táo bón ở trẻ em với những cập nhật về thuốc lactulose

Lactulose không bị phân hủy bởi men tại ruột mà sẽ được chuyển hóa bởi các vi khuẩn tại đại tràng, làm tăng áp lực thẩm thấu, giúp giảm pH tại đại tràng, từ đó có tác động hút nước vào lòng ruột, làm phân mềm hơn đồng thời kích thích nhu động đại tràng giúp tống xuất phân, giảm thời gian phân lưu lại tại đại tràng. Ngoài ra, lactulose còn giúp phát triển hệ vi khuẩn có lợi bifidobacter, giảm nhóm vi khuẩn proteolitic tạo ure. Như vậy có thể nói lactulose có cơ chế tác động kép, nhuận tràng thẩm thấu và tác động như một prebiotic. Và các tác động đó của lactulose phụ thuộc vào liều sử dụng, để điều trị bệnh lý não gan, cần một lượng lớn lactulose ngay từ đầu, còn để có được tác động nhuận tràng thẩm thấu thì sử dụng liều trung gian và với liều thấp thì sẽ có tác dụng prebiotic.

Cơ chế của táo bón mạn tính chức năng là do hành vi nín nhịn của trẻ, phải sử dụng thuốc nhuận tràng dài hạn bên cạnh giáo dục thay đổi hành vi của trẻ. Mục tiêu điều trị là phục hồi sự đi tiêu phân bình thường, không són phân và ngừa tái phát.

Theo hướng dẫn năm 2011 của Hà Lan và NICE, để tháo phân cho trẻ sẽ sử dụng thuốc nhuận tràng thay cho việc thụt tháo. Theo đồng thuận tiêu hóa Bắc Mỹ cũng như theo Nielsen 2019, trong điều trị táo bón cho trẻ, lactulose được lựa chọn do hiệu quả, ít tác dụng phụ và sử dụng được cho mọi lứa tuổi nếu PEG không có tại địa phương và có dữ liệu an toàn dài hạn. Điều trị táo bón mạn tính chức năng cần điều trị thời gian dài, ít nhất là 9 tháng.

2. Thứ hai là phần cập nhật về điều trị tiêu chảy ở trẻ với racecadotril.

Thuốc điều trị tiêu chảy racecadotril với cơ chế ức chế men enkephalinase ngoại vi giúp tăng hiệu quả của enkephaline nội sinh mà không ảnh hưởng thần kinh trung ương. Thuốc khi vào cơ thể có hiệu quả tác dụng nhanh, sau 24 giờ đã giảm được 29% lượng phân. Nhiều nghiên cứu cho thấy mặc dù racecadotril là dẫn xuất opioid nhưng do chỉ tác động đến các enkephalinase ngoại vi nên không gây hại trên thần kinh. Hội Nhi khoa Việt Nam khuyến cáo racecadotril nên được sử dụng sớm để điều trị tiêu chảy nhẹ đến trung bình, và tối đa là 7 ngày.

Cuối cùng là cập nhật về thuốc chống ói odansetron. Ở dạng đường uống, odansetron với liều 1 lần duy nhất giúp giảm ói đáng kể, tăng khả năng thành công của bù dịch bằng đường uống cũng như giảm tỷ lệ phải truyền dịch. Năm 2016, odansetron đã được đưa cập nhật vào hướng dẫn lâm sàng của Bắc Mỹ và châu Âu để điều trị nôn ói.