Hiệu quả và an toàn của phối hợp fenofibrate và statin trong điều trị rối loạn lipid máu hỗn hợp

Bạn đã có tài khoản, đăng nhập tại đây.

Hiệu quả và an toàn của phối hợp fenofibrate và statin trong điều trị rối loạn lipid máu hỗn hợp

TS.BS. Nguyễn Thanh Huân

NỘI DUNG

  1. Hồ sơ một trường hợp lâm sàng có rối loạn lipid máu hỗn hợp 
  2. Hiệu quả của phối hợp fenofibrate và statin
  3. An toàn của phối hợp fenofibrate và statin
  4. Áp dụng và theo dõi phối hợp fenofibrate và statin 

MỞ ĐẦU

Rối loạn lipid máu (dyslipidemia) là tình trạng chuyển hóa lipid bị rối loạn ở các dạng khác nhau, biểu hiện thay đổi chức năng và/hoặc nồng độ của các lipoprotein máu (dyslipoproteinemia). Rối loạn lipid máu là một yếu tố nguy cơ tim mạch và tương tác với các yếu tố khác dẫn đến đến quá trình xơ vữa động mạch. Trong số các dạng rối loạn lipid máu, tăng LDL-c (low-density lipoprotein cholesterol) tương quan thuận với tăng biến cố bệnh tim mạch xơ vữa (atherosclerotic cardiovascular disease) và điều trị giảm LDL-c có thể phòng ngừa và giảm các biến cố này.1 Do đó, năm 2019, trong khuyến cáo điều trị rối loạn lipid máu của ESC/EAS (European Society of Cardiology/European Atherosclerosis Society), LDL-c là mục tiêu điều trị hàng đầu.2 

Tuy nhiên, trên thực hành lâm sàng, bác sĩ có thể gặp bệnh nhân rối loạn lipid máu dạng hỗn hợp (mixed dyslipidemia): Tăng LDL-c, tăng triglyceride và giảm HDL-c (high-density lipoprotein cholesterol).3 Các bệnh nhân này có thể không đạt được mục tiêu điều trị của các lipoprotein trên với liệu pháp thuốc đơn độc ở liều phù hợp. Khi đó, vấn đề đặt ra là cần phối hợp thuốc để kiểm soát được tình trạng rối loạn lipid máu của bệnh nhân. Vì vậy, mục tiêu của bài trình bày này là đánh giá hiệu quả và an toàn của phối hợp fenofibrate và statin trong điều trị rối loạn lipid máu hỗn hợp.

Hồ sơ một trường hợp lâm sàng có rối loạn lipid máu hỗn hợp

Trường hợp lâm sàng được trình bày trong bài này nhằm mục đích giúp người đọc có cách tiếp cận thực tế từ thực hành lâm sàng hằng ngày. Thông qua các bằng chứng từ các nghiên cứu có giá trị và khuyến cáo của ESC/EAS, bệnh nhân sẽ được lựa chọn liệu pháp điều trị rối loạn lipid máu một cách phù hợp. 

Hành chính

  • Giới tính: Nam
  • Tuổi: 68
  • Lý do khám bệnh: Tái khám định kỳ tại phòng khám
  • Tiền sử bệnh
  • Đái tháo đường tuýp 2 (3 năm)
  • Tăng huyết áp (2 năm)
  • Bệnh tim thiếu máu cục bộ với hẹp 60% LAD (MSCT mạch vành cách 1 năm)
  • Rối loạn lipid máu hỗn hợp (7 năm)
  • Toa thuốc đang điều trị:
    • Metformin 850 mg x 1 lần/ngày (chiều)
    • Enalapril 5 mg x 2 lần/ngày (sáng – chiều)
    • Bisoprolol 2.5 mg x 1 lần/ngày (sáng)
    • Aspirin 81 mg x 1 lần/ngày (sáng)
    • Atorvastatin 20 mg x 1 lần/ngày (chiều)

Xét nghiệm bilan lipid máu lúc đói của bệnh nhân ở lần tái khám này

  • LDL-c 69 mg/dL
  • Triglyceride 259 mg/dL
  • HDL-c 32 mg/dL

Hướng xử trí của bác sĩ đối với bệnh nhân này, câu hỏi thường được đặt ra:

  1. Nên tăng liều statin hay phối hợp với thuốc khác?
  2. Chọn thuốc gì phối hợp với statin nhằm làm giảm triglyceride và tăng HDL-c?
  3. Nếu phối hợp fibrate với statin thì dựa trên nghiên cứu gì và khuyến cáo nào?
  4. Cần lưu ý gì và theo dõi như thế nào khi phối hợp fibrate với statin?

LAD, left anterior descending; MSCT, multi-slice computer tomography

Hiệu quả của phối hợp fenofibrate và statin

2.1. Cơ chế tác dụng khác nhau của fibrate và statin

Statin và fibrate là các lựa chọn đầu tay trong điều trị rối loạn lipid máu hỗn hợp. Hai thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau trong điều chỉnh bilan lipid máu. Statin làm gan giảm tổng hợp cholesterol bằng cách ức chế men 3-hydroxy-3-methylglutaryl coenzyme A (HMG-CoA) reductase. Giảm sản xuất cholesterol dẫn đến hoạt hóa protein gắn yếu tố điều hòa sterol tại tế bào gan, dẫn đến tăng sản xuất thụ thể LDL, từ đó tăng loại LDL-c ra khỏi máu. Do đó, hiệu quả chính của statin là làm giảm LDL-c. Trong khi đó, fibrate là đồng vận của peroxisome proliferator-activated receptor-α (PPAR-α) với 5 cơ chế tác dụng và hiệu quả chính là giảm triglyceride và tăng HDL-c:4 

  1. Tăng phân giải các lipoprotein giàu triglyceride bằng cách thay đổi hoạt tính của men lipoprotein lipase.
  2. Tăng hấp thu acid béo và giảm sản xuất triglyceride ở gan thông qua kích thích tạo các protein vận chuyển acid béo và làm tăng hoạt tính men acyl-CoA synthetase, dẫn đến làm gan tăng hấp thu acid béo và chuyển thành acyl-CoA. Fibrate còn làm giảm quá trình tổng hợp acid béo tại gan và kích thích tổng hợp các men oxid hóa acid béo, dẫn đến giảm khả năng aicd béo tham gia tổng hợp triglyceride.
  3. Tăng dọn dẹp các phân tử LDL-c khi tạo nên các LDL-c có ái lực cao với thụ thể LDL, giúp việc bắt giữ và thoái hóa LDL-c trở nên nhanh hơn.
  4. Giảm các lipid trung tính trao đổi giữa VLDL-c và HDL-c. 
  5. Tăng sản xuất HDL-c và kích thích quá trình vận chuyển ngược cholesterol về gan do fibrate làm tăng sản xuất ApoA-I và ApoA-II tại gan.

Bảng 1. Phần trăm thay đổi lipoprotein của các thuốc điều trị rối loạn lipid máu.4

Thuốc

Cholesterol TP

LDL-c

HDL-c

Triglyceride

Statins

↓ 19-37%

↓ 25-50%

 ↑ 4-12

↓14-29%

Ezetimibe

↓ 13%

↓ 18%

↑ 1%

↓ 9%

Resin

↓ 7-10%

↓ 10-18%

↑ 3%

Không đổi hoặc ↑

Nicotinic acid

↓ 10-20%

↓ 10-20%

↑ 14-35%

↓30-70%

Fibrate

↓ 19%

↓ 4-8%

↑ 11-13%

↓ 30%

2.2. Hiệu quả thay đổi bilan lipid máu khi phối hợp fenofibrate và statin

Năm 2005, nghiên cứu có nhóm chứng, mù đôi, ngẫu nhiên, đa trung tâm SAFARI được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả thay đổi bilan lipid máu khi phối hợp simvastatin và fenofibrate so với đơn trị liệu simvastatin. Các bệnh nhân (tuổi 21-68) với rối loạn lipid máu hỗn hợp (triglyceride 150-500 mg/dL và LDL-c > 130 mg/dL) được chia 2 nhóm điều trị với simvastatin 20 mg/ngày hoặc simvastatin 20 mg/ngày cùng với fenofibrate 160mg/ngày. Sau 12 tuần, kết quả ghi nhận phối hợp simvastatin và fenofibrate giảm nhiều hơn có ý nghĩa LDL-c và triglyceride và tăng nhiều hơn có ý nghĩa HDL-c so với simvastatin đơn độc (Hình 1A).5

Năm 2009, một phân tích gộp (pooled analysis) từ 3 nghiên cứu pha 3 ngẫu nhiên, mù đôi với các bệnh nhân có rối loạn lipid máu hỗn hợp được thực hiện. Tổng cộng có 2715 bệnh nhân được điều trị 12 tuần với 1 trong 3 liệu pháp: đơn trị fenofibrate 135 mg/ngày, đơn trị statin (rosuvastatin, simvastatin hoặc atorvastatin) hoặc fenofibrate phối hợp statin. Kết quả ghi nhận: fenofibrate + liều thấp statin làm tăng HDL-c (18,1% vs. 7,4%) và giảm triglyceride (–43,9% vs. –16,8%) so với đơn trị statin liều thấp và giảm LDL-c (–33,1% vs. –5,1%) so với đơn trị fenofibrate (P < 0,001). Hiệu quả này cũng có khi phối hợp fenofibrate + liều trung bình statin (Hình 1B).6

hieu-qua-va-an-toan-cua-phoi-hop-fenofibrate-va-statin-trong-dieu-tri-roi-loan-lipid-mau-hon-hop

Hình 1. (A) Kết quả của nghiên cứu SAFARI năm 2005. Fenofibrate phối hợp với simvastatin giúp cải thiện nhiều hơn có ý nghĩa thống kê bilan lipid máu so với simvastatin đơn trị liệu. (B) Phối hợp fenofibrate + liều trung bình statin giúp cải thiện nhiều hơn có ý nghĩa thống kê bilan lipid máu so với đơn trị fenofibrate hoặc statin.

2.3. Lợi ích trên biến cố tim mạch khi phối hợp fenofibrate và statin

Tác động lâm sàng trên biến cố bệnh tật và tử vong tim mạch của các thuốc fibrate được thể hiện trong 6 nghiên cứu RCT (randomized controlled trial): Helsinki Heart Study (HHS) với gemfibrozil năm 1987, Veterans Affairs High Density Lipoprotein Intervention Trial (VA-HIT) năm 1996, Bezafibrate Infarction Prevention (BIP) năm 1992, Lower Extremity Arterial Disease Event Reduction (LEADER) với bezafibrate năm 2002, Fenofibrate Intervention and Event Lowering in Diabetes (FIELD) năm 2005 và Action to Control Cardiovascular Risk in Diabetes (ACCORD) năm 2010. Nghiên cứu FIELD (so sánh fenofibrate với giả dược) và ACCORD (so sánh fenofibrate + simvastatin với đơn trị simvastatin) được thực hiện trên các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2.7,8 Đây là nhóm bệnh nhân thường có rối loạn lipid máu biểu hiện tăng triglyceride, tăng Apolipoprotein B, tăng LDL-c đậm đặc nhỏ và giảm HDL-c, giảm Apolipoprotein A1.9 

LDL-c là mục tiêu hàng đầu ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và statin đã được chứng minh giảm có ý nghĩa các biến cố tim mạch ở nhóm đối tượng này.10 Tuy nhiên, trong điều kiện đường huyết và LDL-c được kiểm soát tốt, một chiến lược điều trị hạ lipid máu nhằm vào triglyceride và HDL-c có lợi ích hơn nữa lên các biến cố mạch máu lớn và mạch máu nhỏ không? Đây là lý do để nghiên cứu ACCORD được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả của việc thêm fenofibrate vào chế độ điều trị simvastatin ở các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Nghiên cứu bao gồm 5518 bệnh nhân đang được điều trị nhãn mở với simvastatin và được thêm fenofibrate hoặc giả dược. Tiêu chí chính là xuất hiện đầu tiên của nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ không tử vong hoặc tử vong do nguyên nhân tim mạch. Thời gian theo dõi trung bình là 4.7 năm. Kết quả: Tỷ lệ biến cố tiêu chí chính là 2.2% ở nhóm fenofibrate và 2.4% ở nhóm giả dược (HR 0,92; 95% CI 0,79 - 1,08; P = 0,32). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm điều trị ở tất cả tiêu chí phụ. Mặc dù vậy, phân tích dưới nhóm ghi nhận phối hợp fenofibrate với simvastatin có mang lại lợi ích cho các bệnh nhân nam so với các bệnh nhân nữ (P tương tác = 0,01). Ngoài ra, ở bệnh nhân có tăng triglyceride ≥ 204 mg/dL và giảm HDL-c ≤ 34 mg/dL, sự phối hợp này có thể mang lại lợi ích tim mạch so với simvastatin đơn độc (P tương tác = 0,057).8 Phân tích post-hoc từ nghiên cứu ACCORD ghi nhận: trong nhóm tăng triglyceride ≥ 204 mg/dL và giảm HDL-c ≤ 34 mg/dL, nhóm  phối hợp fenofibrate với simvastatin có tỷ lệ biến cố tim mạch là 12,4% vs. 17,3% so với nhóm dùng simvastatin đơn độc (HR=0,69, 95% CI 0,49 – 0,97, nominal P =0,032).11 Tóm lại, nghiên cứu ACCORD cho thấy phối hợp fenofibrate và statin có thể có lợi trên các biến cố mạch máu lớn ở các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 nam giới, tăng triglyceride và giảm HDL-c.

Đối với biến cố mạch máu nhỏ, kết quả nghiên cứu ACCORD ghi nhận phối hợp fenofibrate với simvastatin làm giảm tần suất mới mắc tiểu đạm vi lượng (P = 0,01) và tiểu đạm đại lượng (P = 0,03) so với simvastatin đơn độc. Fenofibrate còn làm giảm 40% nguy cơ tiến triển bệnh võng mạc do đái tháo đường (P = 0,006) và giảm 47% nguy cơ đoạn chi lần đầu do vi mạch (P = 0,027). Các lợi ích trên biến cố mạch máu nhỏ của fenofibrate cũng được ghi nhận ở nghiên cứu FIELD so sánh fenofibrate với giả dược. Trong nghiên cứu này, fenofibrate làm giảm nhu cầu điều trị laser bệnh võng mạc (P = 0,0003).7 Như vậy, kết hợp kết quả từ 2 nghiên cứu ACCORD và FIELD cho thấy việc kiểm soát tốt tình trạng rối loạn lipid máu, đặt biệt ở các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 là cần thiết và có lợi. Fenofibrate góp phần giảm biến mạch máu nhỏ và có khuynh hướng giảm biến cố tim mạch lớn ở các bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 nam giới, tăng triglyceride và giảm HDL-c. 

Năm 2019, một nghiên cứu thế giới thực với 10705 bệnh nhân Hàn Quốc được công bố khảo sát hiệu quả giảm các nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa khi thêm fenofibrate vào liệu pháp điều trị statin. Tiêu chí chính là biến cố gộp bao gồm bệnh mạch vành, đột quỵ do thiếu máu cục bộ và tử vong do nguyên nhân tim mạch. Kết quả: nguy cơ biến cố tiêu chí chính giảm có ý nghĩa ở nhóm phối hợp fenofibrate với statin so với nhóm statin (HR 0,74; 95% CI 0,58 – 0,93; P = 0,001). Nguy cơ của từng biến cố bệnh mạch vành, đột quỵ do thiếu máu cục bộ và tử vong do nguyên nhân tim mạch có thấp hơn ở nhóm phối hợp thuốc nhưng không đạt ý nghĩa thống kê. Hiệu quả giảm biến cố tiêu chí chính ghi nhận ở nhóm bệnh nhân tăng triglyceride hoặc giảm HDL-c và không có ghi nhận ở nhóm triglyceride thấp và HDL-c cao (Hình 2).12

Image

Hình 2. Đường Kaplan-Meier cho tiêu chí chính ở các nhóm đối tượng. (A) Toàn bộ các bệnh nhân tham gia nghiên cứu. (B) Nhóm bệnh nhân tăng triglyceride hoặc giảm HDL-c. (C) Nhóm bệnh nhân có triglyceride thấp và HDL-c cao.12

An toàn của phối hợp fenofibrate và statin

Phối hợp fibrate với statin có thể được chỉ định trên lâm sàng. Thực tế, bản thân mỗi thuốc đều liên quan tăng nguy cơ bệnh cơ và tăng men gan. Khi phối hợp 2 thuốc với nhau, 2 tác dụng phụ này cũng được quan tâm nhiều nhất. Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là mức độ nguy cơ của 2 tác dụng phụ này phụ thuộc vào: (1) loại và liều statin và fibrate được dùng và (2) đặc điểm của bệnh nhân. Nguy cơ xảy ra cao hơn ở những bệnh nhân có bệnh thận mạn và những bệnh nhân được sử dụng fibrate và/hoặc statin liều cao. Đối với loại thuốc, gemfibrozil, một thuốc fibrate thế hệ đầu tiên, ức chế chuyển hóa statin thông qua con đường glucuronidation, dẫn đến làm tăng nồng độ statin trong huyết tương. Trong khi đó, fenofibrate không có cơ chế tác dụng giống như gemfibrozil. Vì vậy, nguy cơ bệnh cơ khi phối hợp fenofibrate với statin thấp hơn so với phối hợp gemfibrozil và statin (Hình 3).13 Do đó, các khuyến cáo của ESC/EAS chấp thuận phối hợp fenofibrate với statin và không khuyến cáo phối hợp gemfibrozil với statin.2 Nếu có phối hợp, fenofibrate nên được dùng vào buổi sáng và statin được dùng vào buổi chiều tối nhằm giảm các nồng độ liều đỉnh.4

Image

Hình 3. Số lượng trường hợp hủy cơ được báo cáo trong mỗi triệu bệnh nhân được kê toa phối hợp cerivastatin với fenofibrate hoặc gemfibrozil (a) và phối hợp statin khác (không phải cerivastatin) với fenofibrate hoặc gemfibrozil (b). Sự phối hợp fenofibrate với cerivastatin có tỷ lệ hủy cơ thấp hơn 33 lần so với phối hợp gemfibrozil với cerivastatin. Phối hợp fenofibrate với statin khác có tỷ lệ hủy cơ thấp hơn 15 lần so với phối hợp gemfibrozil với statin khác.13

Nhìn chung, các thuốc trong nhóm fibrate có tính dung nạp tốt với các tác dụng phụ nhẹ như rối loạn tiêu hóa (5%) và nổi ban (2%). Thậm chí các tác dụng phụ như bệnh cơ, tăng men gan và sỏi mật có thể có nhưng độ an toàn của nhóm thuốc này là chấp nhận được.14 Trong nghiên cứu FIELD, CPK (creatin phosphokinase) tăng > 5 lần so với mức giới hạn trên và ALT (alanine aminotransferase) tăng > 5 lần so với mức giới hạn trên đều được ghi nhận < 1% ở cả 2 nhóm fenofibrate và giả dược.7

Trong nghiên cứu ACCORD, tỷ lệ bệnh nhân có CPK tăng > 5 lần ở nhóm fibrate và giả dược lần lượt là 0,6% và 0,2% (P = 0,03); tỷ lệ bệnh nhân có ALT tăng > 5 lần ở nhóm fibrate và giả dược lần lượt là 1,9% và 2,2% (P = 0,43). Tỷ lệ bệnh cơ/viêm cơ/hủy cơ ở nhóm fenofibrate + simvastatin và nhóm simvastatin đều là 0,1%.8

Áp dụng và theo dõi phối hợp fenofibrate và statin

Bệnh nhân được giới thiệu ở phần đầu tiên của bài này có đái tháo đường tuýp 2, hẹp 60% LAD, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu hỗn hợp (tăng LDL-c, tăng triglyceride và giảm HDL-c). Bệnh nhân đã đang dùng atorvastatin liều 20 mg/ngày liên tục 3 năm và có kết hợp với thay đổi lối sống, chế độ ăn. Kết quả xét nghiệm máu gần đây ghi nhận: LDL-c 69 mg/dL, triglyceride 259 mg/dL, HDL-c 32 mg/dL.

Trong khuyến cáo điều trị rối loạn lipid máu của ESC/EAS năm 2019, statin là lựa chọn đầu tay nhằm làm giảm các biến cố tim mạch ở các đối tượng nguy cơ cao có tăng triglyceride máu (triglyceride > 200 mg/dL) (Nhóm I, mức độ bằng chứng B). Với các bằng chứng từ 2 nghiên cứu ACCORD và FIELD, vai trò của fenofibrate trong khuyến cáo này như sau:

1.      Bệnh nhân phòng ngừa nguyên phát có LDL-c đạt mục tiêu và triglyceride > 200 mg/dL, fenofibrate có thể được xem xét kết hợp với statin. (Nhóm IIb, mức độ bằng chứng B).

2.      Bệnh nhân nguy cơ cao có LDL-c đạt mục tiêu và triglyceride > 200 mg/dL, fenofibrate có thể được kết hợp với statin. (Nhóm IIb, mức độ bằng chứng C).

Dựa theo khuyến cáo của ESC/EAS năm 2019, bệnh nhân được bổ sung thuốc fenofibrate supra 160 mg uống vào buổi sáng và vẫn duy trì atorvastatin 20 mg uống vào buổi chiều. Các thuốc tim mạch khác vẫn duy trì như trước. Sau 2 tháng điều trị, kết quả xét nghiệm máu ghi nhận: LDL-c 58 mg/dL (↓16%), triglyceride 183 mg/dL (↓29%), HDL-c 36 mg/dL (↑12,5%).

Trước khi thêm fenofibrate, bệnh nhân được xác định mức nền ALT và CPK. Sau 2 tháng phối hợp, ALT tăng gấp 1,5 lần và CPK tăng gấp 2 lần. Bệnh nhân không đau cơ ngay cả khi đi bộ 45 phút. Bệnh nhân được dùng tiếp fenofibrate và atorvastatin. Sau 6 tuần, kết quả ALT ở mức 1,3 lần và CPK 1,8 lần so với mức nền. Bệnh nhân được tiếp tục duy trì liều phối hợp trên và kiểm tra ALT mỗi 3-6 tháng sau đó.

Bảng 2. Theo dõi ALT, CPK ở bệnh nhân được điều trị rối loạn lipid máu.

Kiểm tra ALT

·      Trước khi bắt đầu điều trị nhằm xác định mức nền

·      Kiểm tra sau 8 tuần bắt đầu điều trị hoặc sau tăng liều thuốc

ALT tăng < 3 lần so với giá trị giới hạn trên bình thường

·      Tiếp tục điều trị

·      Kiểm tra lại men gan sau 4-6 tuần

ALT tăng > 3 lần so với giá trị giới hạn trên bình thường

·      Ngưng hoặc giảm liều thuốc, kiểm tra lại men gan trong vòng 4-6 tuần

·      Thận trọng, cân nhắc dùng lại thuốc sau khi men gan trở về bình thường

Kiểm tra CPK

·      Trước khi bắt đầu điều trị nhằm xác định mức nền

·      Kiểm tra CPK nếu bệnh nhân có đau cơ

CPK tăng < 5 lần so với giá trị giới hạn trên bình thường

·      Không có triệu chứng bệnh cơ: Tiếp tục dùng thuốc

·      Có triệu chứng bệnh cơ: Theo dõi sát triệu chứng và kiểm tra CPK thường xuyên

CPK tăng > 5 lần so với giá trị giới hạn trên bình thường

·      Ngưng điều trị, kiểm tra chức năng thận và theo dõi CPK mỗi 2 tuần

·      Loại trừ nguyên nhân khác có thể gây tăng CPK ngoài nguyên nhân do thuốc

 

 

 

KẾT LUẬN

Phối hợp fenofibrate và statin có thể được chỉ định cho các bệnh nhân có LDL-c đạt mục tiêu và triglyceride vẫn còn > 200 mg/dL. Ở nhóm đối tượng đái tháo đường tuýp 2, phối hợp 2 thuốc này có khuynh hướng lợi ích trên các biến cố mạch máu lớn ở nhóm bệnh nhân nam và nhóm bệnh nhân có tăng triglyceride kèm giảm HDL-c. Sự phối hợp fenofibrate và statin cho thấy an toàn và có thể áp dụng trong thực hành lâm sàng khi có chỉ định. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Baigent C, Keech A, Kearney PM, et al. Efficacy and safety of cholesterol-lowering treatment: prospective meta-analysis of data from 90,056 participants in 14 randomised trials of statins. Lancet 2005;366:1267-78.

2.      Mach F, Baigent C, Catapano AL, et al. 2019 ESC/EAS Guidelines for the management of dyslipidaemias: lipid modification to reduce cardiovascular risk. Eur Heart J 2020;41:111-88.

3.      National Cholesterol Education Program Expert Panel on Detection E, Treatment of High Blood Cholesterol in A. Third Report of the National Cholesterol Education Program (NCEP) Expert Panel on Detection, Evaluation, and Treatment of High Blood Cholesterol in Adults (Adult Treatment Panel III) final report. Circulation 2002;106:3143-421.

4.      Opie LH. Lipid-Modifying and Antiatherosclerotic Drugs. Drug for the heart 8th edition 2013:398-430.

5.      Grundy SM, Vega GL, Yuan Z, Battisti WP, Brady WE, Palmisano J. Effectiveness and tolerability of simvastatin plus fenofibrate for combined hyperlipidemia (the SAFARI trial). Am J Cardiol 2005;95:462-8.

6.      Jones PH, Davidson MH, Goldberg AC, et al. Efficacy and safety of fenofibric acid in combination with a statin in patients with mixed dyslipidemia: Pooled analysis of three phase 3, 12-week randomized, controlled studies. J Clin Lipidol 2009;3:125-37.

7.      Keech A, Simes RJ, Barter P, et al. Effects of long-term fenofibrate therapy on cardiovascular events in 9795 people with type 2 diabetes mellitus (the FIELD study): randomised controlled trial. Lancet 2005;366:1849-61.

8.      Group AS, Ginsberg HN, Elam MB, et al. Effects of combination lipid therapy in type 2 diabetes mellitus. N Engl J Med 2010;362:1563-74.

9.      Taskinen MR, Boren J. New insights into the pathophysiology of dyslipidemia in type 2 diabetes. Atherosclerosis 2015;239:483-95.

10.   Cholesterol Treatment Trialists C, Kearney PM, Blackwell L, et al. Efficacy of cholesterol-lowering therapy in 18,686 people with diabetes in 14 randomised trials of statins: a meta-analysis. Lancet 2008;371:117-25.

11.   Elam MB, Lovato LC, Byington RP. Abstract 19724: Hypertriglyceridemia and Low HDL-C Predicts Fenofibrate Response in The ACCORD-Lipid Trial. Circulation 2010;122:A19724.

12.   Kim NH, Han KH, Choi J, Lee J, Kim SG. Use of fenofibrate on cardiovascular outcomes in statin users with metabolic syndrome: propensity matched cohort study. BMJ 2019;366:l5125.

13.   Jacobson TA. Myopathy with statin-fibrate combination therapy: clinical considerations. Nat Rev Endocrinol 2009;5:507-18.

14.   H.Davidson M. Safety Considerations with Fibrate Therapy. The American Journal of Cardiology;99:S3-S18.

 

VTM2143052