Bánh Xe Thay Đổi Hành Vi: Bộ khung cải thiện việc tuân thủ điều trị bệnh lý tim mạch

Bạn đã có tài khoản, đăng nhập tại đây.

Image

Tim mạch

Tim mạch

Bánh Xe Thay Đổi Hành Vi: Bộ khung cải thiện việc tuân thủ điều trị bệnh lý tim mạch

alt
alt

Thông điệp chính:

 

  • Các can thiệp được lên kế hoạch để cải thiện việc tuân thủ thuốc điều trị bệnh tim mạch thường được thiết kế mà không có bất kỳ hiểu biết nào về nguyên nhân thúc đẩy hành vi của bệnh nhân; kết quả là chúng chỉ có hiệu quả ở mức độ vừa phải
  • Khung Bánh Xe Thay Đổi Hành Vi (BCW) là một mô hình hữu ích để hiểu việc không tuân thủ và mô tả đặc điểm của việc tuân thủ điều trị bệnh tim mạch
  • BCW nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết các mối quan tâm cụ thể của bệnh nhân liên quan đến vấn đề điều trị của họ và cung cấp thông tin chi tiết về việc cải thiện hiệu quả của các biện pháp can thiệp nhằm vào các bệnh nhân có nguy cơ 

 

Cải thiện sự tuân thủ của bệnh nhân đòi hỏi một bộ khung có thể hiện thực hóa

Những bài trước trong loạt bài này đã khẳng định rằng không tuân thủ thuốc điều trị bệnh tim mạch là một vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính quan trọng.1, 2 Vấn đề tuân thủ và tác động của chúng đối với sức khỏe, chi phí và tỷ lệ tử vong ngày càng trầm trọng hơn do điều kiện kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển.3 Không tuân thủ là một vấn đề về hành vi và chúng ta đã thảo luận về một số mô hình giúp hiểu điều gì thúc đẩy việc không tuân thủ và các hành vi khác của bệnh nhân. Nhiều khởi xướng ​​hỗ trợ đã được phát triển nhằm giúp bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính thay đổi hành vi của họ, và nhiều chương trình trong số này đã cho thấy kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều phạm vi đáng chú ý để cải thiện các can thiệp bằng cách kết hợp các khuôn khổ hành vi tốt hơn và mang tính ứng dụng hơn.4,5 Trong khi các khung hành vi tập trung vào việc cải thiện kiến thức bệnh nhân nhằm cung cấp một số nhận thức, thì việc khái niệm hóa vấn đề không hoàn thiện của bệnh nhân có xu hướng dẫn đến các biện pháp can thiệp thể hiện sự thay đổi hành vi hạn chế. Ví dụ, Mô ​​Hình Niềm Tin Sức Khỏe, đã được thảo luận trước đây trong loạt bài này, không đề cập đến các yếu tố hành vi nhất định có thể ảnh hưởng đến sự tuân thủ, chẳng hạn như sự bốc đồng, thói quen và sự tự chủ, 5 việc áp dụng Thuyết Hành Vi Hoạch Định đã mang lại thành công lẫn thất bại trong các chương trình hỗ trợ bệnh nhân.

Bánh Xe Thay Đổi Hành Vi (BCW) được phát triển để giải quyết nhu cầu về một bộ khung toàn diện, được xác thực, nhằm đánh giá hành vi, thiết kế các biện pháp can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp.6 BCW kết hợp nhiều bộ khung khác được thảo luận trong loạt bài này, đó là bộ khung toàn diện và duy nhất, có sẵn cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe mong muốn thực hiện hành động cụ thể để hỗ trợ bệnh nhân của họ.

 

BCW là một bộ khung toàn diện và có thể hiện thực hóa

 

Được đề xuất vào năm 2011 bởi Susan Michie, Maartje M van Stralen và Robert West, BCW là một bộ khung toàn diện nhưng đơn giản, có thể được áp dụng cho hầu hết mọi hành vi của con người. Trung tâm của công cụ động này là ba thành phần cơ bản, được gọi là COM-B, nó giải thích hoặc ảnh hưởng đến một hành vi nhất định (B): năng lực, cơ hội và động lực (COM).6

  • Năng lực được hiểu là năng lực tâm lýthể chất của một cá nhân để thực hiện một hành vi hoặc hoạt động cụ thể. 7 Ví dụ, một bệnh nhân suy tim bị trầm cảm kèm theo, có thể bị suy giảm khả năng tuân thủ về mặt tâm lý.
  • Cơ hội bao gồm các yếu tố xã hộivật lý khách quan, chúng cản trở, kích hoạt hoặc khơi gợi hành vi cụ thể ra bên ngoài.7 Ví dụ, bệnh nhân bị bệnh tim có thể không tuân thủ các yếu tố vật lý hoặc xã hội, chẳng hạn như vị trí hoặc chi phí điều trị.
  • Động lực kết hợp các quá trình tự động liên quan đến cảm xúc và thúc đẩy, cũng như các quá trình phản xạ; nó bao gồm việc thiết lập và đánh giá các kế hoạch.7 Ví dụ, bệnh nhân tăng huyết áp có thể không tuân thủ điều trị khi không có triệu chứng vì bản chất không liên tục của tình trạng bệnh, có nghĩa là họ thiếu các kích thích tự động khuyến khích sự tuân thủ. Các kích thích tự động tương ứng với quy trình “Hệ thống 1” của Kahneman trong khi các quy trình phản xạ tương ứng với “Hệ thống 2”.

BCW được cấu thành từ nhiều phần khác nhau. Phần này liệt kê một số chức năng can thiệp, bao gồm giáo dục và đào tạo, đây cũng là những thành phần phổ biến của hầu hết các can thiệp tuân thủ thuốc. Một phần khác bao gồm các danh mục chính sách như hướng dẫn và luật pháp. Các thành phần của khung BCW kết hợp để tương tác theo kiểu phi tuyến tính.5 BCW đã được áp dụng thành công để phát triển các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện sự tuân thủ.

Image

BCW phát triển sự hiểu biết toàn diện về hành vi tuân thủ

 

Việc sử dụng định dạng COM-B của BCW để tạo mô hình hành vi* tuân thủ thuốc thể hiện giá trị tiềm năng của bộ khung trong việc mô tả hành vi tuân thủ bệnh tim mạch. Như một ví dụ về tính tiện ích của mô hình, hãy xem xét các yếu tố tâm lý hạn chế khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân suy tim. Bệnh nhân suy tim  trải nghiệm mức độ bất ổn cao về tình trạng bệnh của họ, điều này có thể ảnh hưởng đến quyết định dùng thuốc của bệnh nhân.8 Mô hình tuân thủ được đề xuất giải quyết sự bất ổn này thông qua hiểu biết về bệnh và điều trị.6 Lấy một ví dụ khác, những người sống sót sau nhồi máu cơ tim có nguy cơ tái phát và tỷ lệ tử vong hàng năm là 5%, 9 tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ được ước tính vẫn chỉ lớn hơn 50% một chút mặc dù nguy cơ nghiêm trọng này hiện diện. BCW giải quyết vấn đề trên bằng cách xem xét niềm tin của bệnh nhân về việc điều trị thông qua các quá trình phản xạ có bao gồm yếu tố thúc đẩy động lực.6 Hai ví dụ này chứng minh rằng BCW có thể được sử dụng để tạo ra một mô hình tuân thủ toàn diện, hợp lý, làm cơ sở cho các can thiệp dựa trên bằng chứng để cải thiện sự tuân thủ thuốc điều trị bệnh tim mạch.

 

 

Khung BCW là một cách tiếp cận đơn giản, toàn diện để cải thiện sự tuân thủ

 

So với các mô hình hành vi thay thế, BCW cung cấp một cách tiếp cận hợp lý, có thể hiện thực hóa nhằm giúp hiểu về vấn đề không tuân thủ. Nó tạo nên một mô hình tuân thủ chỉ ra cách tốt nhất mà hành vi có thể bị ảnh hưởng. Các ví dụ được trình bày ở trên đây mang tính chất đặc thù, chứng minh rằng những can thiệp tuân thủ hiệu quả để cải thiện tuân thủ bệnh tim mạch sẽ cần phải giải quyết vấn đề hiểu biết và niềm tin của bệnh nhân về tình trạng bệnh cũng như phương pháp điều trị. Nghiên cứu bổ sung đã sử dụng khung BCW để xác định các chiến lược can thiệp cải thiện tuân thủ tim mạch cho các nhóm dân số xã hội học có hành vi và nhu cầu cụ thể.3 Dù tài liệu không chỉ ra những hạn chế đáng xem xét của bộ khung này, sự hiểu biết về các thuyết hành vi thay thế và ứng dụng của chúng vào sự tuân thủ sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin.

*Lưu ý: Việc xác thực mô hình hành vi bằng các nguồn bên ngoài không được tìm thấy trong tài liệu. 

Tài liệu tham khảo:

1.     Godfrey M. Hochbaum GM (1956). “Why people seek diagnostic x-rays.” Public Health Reports, (71):4, pp. 377–380.

2.     Irwin M. Rosenstock (1974). “The Health Belief Model and preventive health behavior,” Health Education Monographs. (2):4, pp. 354–386. https://doi:10.1177/109019817400200405

3.      Neil B. Oldridge & Davild L. Streiner (1990). “The Health Belief Model: Predicting compliance and dropout in cardiac rehabilitation,” Medicine & Science in Sports & Exercise, (22):5, pp. 678–683. https://doi:10.1249/00005768-199010000-00020

4.     Nahla Al-Ali & Linda Haddad (2004). “The effect of the Health Belief Model in explaining exercise participation among Jordanian myocardial infarction patients,” Journal of Transcultural Nursing, (15):2, pp. 114–121. https://doi:10.1177/1043659603262484

5.     Karen A. Sullivan, Katherine M. White, Ross Young, Anne Chang, Collette Roos, & Clinton Scott (2008). “Predictors of intention to reduce stroke risk among people at risk of stroke: An application of an extended Health Belief Model,” Rehabilitation Psychology, (53):4, pp. 505–512. https://doi:10.1037/a0013359

6.     Leah L. Zullig, Linda L. Sanders, Steven Thomas, et al. (2016). “Health beliefs and desire to improve cholesterol levels among patients with hyperlipidemia,” Patient Education and Counseling, (99):5, pp. 830–835. https://doi:10.1016/j.pec.2015.11.025

7.     Mohammad Hosein Baghianimoghadam, Golamreza Shogafard, Reza Sanati Hamid, Behnam Baghianimoghadam, Seyed Saeed Mazloomy, & Mohsen Askarshahi (2013). “Application of the Health Belief Model in promotion of self-care in heart failure patients,” Acta Medica Iranica, (51):1, pp. 52–58.

8.     Zhao Yue, Chen Li, Qi Weilin, & Wang Bin (2015). “Application of the Health Belief Model to improve the understanding of antihypertensive medication adherence among Chinese patients,” Patient Education and Counseling, (98):5, pp. 669 –673. https:// doi:10.1016/j.pec.2015.02.007

9.     John Weinman, Keith J. Petrie, Rona Moss-Morris, & Rob Horne (1996). “The illness perception questionnaire: A new method for assessing the cognitive representation of illness,” Psychology and Health, (11):3, pp. 431–445.

10.  Steven Prentice-Dunn & Ronald W. Rogers (1986). “Protection Motivation Theory and preventive health: Beyond the Health Belief Model,” Health Education Research, (1):3, pp. 153–161. https://doi:10.1093/her/1.3.153